Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2020

GIAI THOẠI VỀ LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN MẠC ĐĨNH CHI


     Trong lịch sử nước Nam ta, Mạc Đĩnh Chi là một trong số bốn vị Trạng nguyên được tôn làm Lưỡng quốc Trạng nguyên. Kể ra như vậy thật là vinh hạnh lắm, bởi xuyên suốt từ khi dựng nước đến hết thời kỳ Phong kiến, nước ta có tổng cộng bốn mươi chín vị Trạng nguyên, nhưng chỉ có bốn vị là được phong hiệu Lưỡng quốc Trạng nguyên mà thôi. Ngài Mạc Đĩnh Chi chính là một trong bốn vị đó.






     Ông Đĩnh Chi, tự là Tiết Phu, hiệu là Tích Am. Theo sử sách thì ông nguyên là người Lan Khê, huyện Bình Hà, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, sau đó dời đến làng Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Đông (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Tổ tiên ông là Mạc Hiển Tích, là người đỗ Thái học sinh tại khoa thi năm Quảng Hựu thứ 2 (Bính dần 1086), thời vua Lý Nhân Tông. Sử cũng mô tả ông Đĩnh Chi là người thông minh hơn người, nhưng dung mạo rất xấu xí, người gày gò, thấp bé, miệng rộng, trán dô, mũi tẹt, tai vểnh, hình tướng thật là kỳ quái. Vậy nguyên cớ vì sao ông lại có bộ dạnh như thế?

     Giai thoại kể lại rằng, thời xưa quê hương ông dân cư còn thưa thớt, làng xóm ở ven bìa rừng, lại có nhiều gò đống, cây cối um tùm. Một lần bà mẹ của Mạc Đĩnh Chi (khi đó vẫn chưa sinh ra Đĩnh Chi) thường vào rừng kiếm củi, bỗng một ngày nọ bà bị một con khỉ độc to lớn từ trong rừng lao tới bắt giữ, toan giở trò hãm hiếp. Cũng may bà là người khỏe mạnh nên chống đỡ quyết liệt và đã thoát ra được, chạy thẳng về nhà trong tình trạng áo quần tả tơi.

     Về đến nhà, bà kể lại sự việc vừa xảy ra với chồng, người chồng tất nhiên nộ khí xung thiên, quyết tâm diệt trừ khỉ độc để báo thù. Sau một đêm suy tính phương sách, ông đã vạch ra được một kế hiểm, quyết theo kế đó mà thực thi.

     Sáng hôm sau ông lấy quần áo của vợ, nai nịt gọn gàng, độn ngực chít khăn, quang gánh vác trên vai, nhai trầu cho môi đỏ, giả làm phụ nữ vào rừng kiếm củi. Lúc khởi hành không quên giắt theo con dao nhọn bên hông. Đi đến bìa rừng liền giả vờ hái củi, tay vẫn bẻ cành mà mắt dõi xung quanh. Được một lúc thì khỉ độc nhào ra, vật ngã ông xuống đất toan hãm hiếp. Người chồng nhanh tay rút dao đâm hai nhát vào sườn và ngực khỉ. Bị đâm hai nhát dao chí mạng, con khỉ độc rú lên một tiếng rồi ngã vật xuống đất, chết tại chỗ.

     Sau khi giết được khỉ ác, ông đứng dậy điều chỉnh lại y phục, lau sạch vết máu trên người rồi quẩy gánh củi ra về. Hôm sau hai vợ chồng cùng vào rừng, đi ngang qua chỗ khỉ chết thì không thấy xác đâu nữa mà chỉ thấy một đống mối đùn rất to. Là người có học, lại biết chút ít về thuật Địa lý nên người chồng để mắt dõi khắp bốn phương, lấy đống mối làm tâm thì thấy nơi này là gò đất thấp, bên tả có dòng nước uốn lượn chảy đi, trước mặt là minh đường rộng rãi, xung quanh có các gò đất châu tuần về, khí thế rất vượng, xác khỉ đã được thiên táng vào nơi như thế. Quan sát hồi lâu xong ông mới nói với vợ: “xác khỉ đã bị mối đùn kín rồi.” Hai vợ chồng ông ở lại kiếm củi đến trưa thì về. Từ đó trở đi, ông giữ kín câu chuyện trên, không hé lộ với ai vậy.

     Thời gian sau thì bà vợ có thai, sinh ra được một người con trai, đặt tên là Mạc Đĩnh Chi. Điểm kỳ lạ ở chỗ, cậu bé này mặt mũi hao hao giống khỉ, miệng rộng, trán dô, tai vểnh, mũi hếch, dáng người nhỏ bé, tứ chi ngắn ngủi, da đen như bồ hóng, mặt nhọ tựa que than, tuy nhiên đôi mắt lại đặc biệt tinh anh, sáng trong như ngọc vậy. Dáng dấp của Đĩnh Chi khi đó được các thầy Tướng liệt vào hàng “cổ tướng”, là những dạng người có hình thù kì quái, ngũ đoản nhưng thần thái tinh anh, khí chất phi phàm vậy.

     Sau này, bố của Đĩnh Chi chuẩn bị lâm chung đã dặn lại vợ con đem táng mình vào đống mối đùn khi xưa, bên trên xác khỉ nằm. Kể từ đó ngôi mộ được mối đùn to thêm ra, phù hộ cho con cháu được vinh thăng quý hiển.

     Nay cứ xét theo giai thoại trên thì thấy hai ý rằng, hình tướng hao hao giống khỉ của ông Mạc Đĩnh Chi là do bà mẹ bị chấn động tâm can trước khi có mang mà hình thành nên cốt cách người con, ý thứ hai là do mộ của cha được táng vào thế đất vượng, lại có xác khỉ nằm trước đó nên đã phù hộ cho người con, đồng thời càng ngày càng hun đúc nên hình tướng cổ quái đó. Dù ý kiến ra sao mặc lòng, sự thành công của ông Đĩnh Chi xét ở góc độ Phong thủy âm trạch đúng là có nguyên cớ vậy.

     Lại xét thêm, Tổ tiên bốn đời của ông Mạc Đĩnh Chi là ông Mạc Hiển Tích, đỗ khoa Thái học sinh dưới triều vua Lý Nhân Tông. Gốc gác dòng dõi đã có sẵn mà di truyền cho con cháu, thế chẳng phải là phúc ấm tổ tiên cũng là cái quyết định đến sự thành công của ông ấy hay sao.

     Truyện trên là nói về cái khởi nguồn phát tích lên ông Đĩnh Chi, từ khi ông ấy còn chưa ra đời. Sau này nhập triều làm quan còn có nhiều giai thoại nổi tiếng hơn nữa, đơn cử như tích truyện Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên. Truyện kể rằng.

     Năm Mậu thân 1308 thời vua Trần Anh Tông, ông Mạc Đĩnh Chi được triều đình cử đi sứ nhà Nguyên, mừng ông Nguyên Vũ Tông mới lên ngôi. Khi đó đoàn sứ bộ nước ta đi đến biên giới hai nước, ở khu vực thành Pha Lũy, tức là cửa khẩu Hữu Nghị Quan bây giờ vậy. Bởi vì thời tiết gió mưa nên đoàn sứ nước ta tới muộn, cửa thành đã đóng từ lâu. Viên quan thủ thành phía Trung Quốc không chịu mở cửa cho thông quan. Tuy nhiên cũng nghe tiếng ông Đĩnh Chi văn tài thao lược nên muốn thử tài bằng câu đối:

“Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.”

Nghĩa là: Qua cửa quan trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan.

Ông Đĩnh Chi đã đối lại như sau:

“Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.”

Nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, mời tiên sinh đối trước.

Quan thủ thành phục tài liền ra lệnh mở cổng thành nghênh đón.

     Khi đoàn sứ thần đến Đại Đô (nay là thủ đô Bắc Kinh) và nhập triều bái kiến Hoàng đế nhà Nguyên, thấy Mạc Đĩnh Chi là người thấp bé, lại có dung mạo xấu xí nên Nguyên triều có ý coi thường. Trong buổi tiếp đầu tiên, vua Nguyên Vũ Tông đã ra câu đối:

“Nhật hỏa vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thố”

Nghĩa là: Mặt trời là lửa mây là khói, ban ngày thiêu cháy vừng trăng.

     Câu đối này của vua Nguyên mang hàm ý của bậc kẻ cả, cậy mình là nước lớn nên có thể vùi dập nước Nam bé nhỏ vậy.

Ông Mạc Đĩnh Chi đã không ngần ngại mà đối lại rằng:

“Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô”

Nghĩa là: Mặt trăng là cung Sao là đạn, buổi hoàng hôn bắn rụng mặt trời.

     Câu đối thật là hoàn chỉnh, lại mang hàm ý kiên cường. Dù là nước nhỏ nhưng cũng có thể địch lại cường quốc khi được thời cơ vậy.

     Trong hai câu đối trên đều dùng đến hình tượng ngọc thố làm đại biểu cho mặt trăng, dùng kim ô làm đại biểu cho mặt trời. Vậy cớ làm sao mà lại lấy đó làm ý tứ?


Thỏ ngọc và Tôn Ngộ Không.


     Nói về ngọc thố chắc hẳn nhiều người hiểu ngay ra là thỏ ngọc trên cung trăng, và quả thực ý tứ đúng là như vậy. Truyền thuyết Trung Hoa kể rằng, thỏ ngọc sống tại cung trăng cùng nàng Hằng Nga, hàng ngày trông giữ cung trăng và dùng chày giã thuốc trường sinh. Hình dáng thỏ ngọc hiện ra rõ nét nhất chính là vào buổi trăng tròn, đặc biệt trăng rằm tháng tám là rõ nét nhất. Bởi vậy dân gian mới lấy hình tượng thỏ ngọc để nói về mặt trăng. Hình tượng trên có thể thấy được khắc họa rõ nét trong tác phẩm Tây du ký của ông Ngô Thừa Ân mà độc giả có thể tham cứu thêm vậy.

     Còn về kim ô, tức là con quạ vàng. Cũng theo truyền thuyết Trung Hoa thì đây là con quạ có ba chân, toàn thân phát hỏa, ánh vàng rực rỡ chiếu sáng muôn nơi, bởi vậy nó còn được gọi là “dương ô”, tức là quạ mặt trời. Truyền thuyết kể rằng, xưa kia có một đàn dương ô mười con, thường đậu trên cây dâu tằm đỏ (phù tang) ở dưới chân thung lũng mặt trời. Cây dâu tằm này có nhiều nhánh, mỗi nhánh lại mở ra một cái hốc lớn. Mười con dương ô, mỗi con trú ngụ tại mười hốc dâu như vậy. Mỗi ngày, một con dương ô sẽ bay khắp cõi trời cùng với bà Hi Hòa, là mẹ của chúng vậy. Chúng bay lần lượt từng ngày như vậy, tuần tự không ngừng. Hết vòng thì bằng một tuần.

Hình bích họa quạ ba chân thời Hán.


     Cũng cần lưu ý thêm là thời xưa quy ước một tuần có mười ngày, gồm thượng tuần, trung tuần và hạ tuần. Gộp lại mà thành một tháng có ba mươi ngày. Giờ đây ta theo Tây hóa nên quy ước một tuần có bảy ngày mà thôi.

     Lại nói thêm, có lần cả mười con dương ô cùng nhau bay rợp trời, khí nóng tỏa muôn phương, mặt đất vì thế mà trở nên khô cằn, muôn vật sắp đi vào diệt họa. Lúc đó may có chàng Hậu Nghệ nhờ tài bắn cung nên đã giương cung bắn rụng chín mặt trời, chỉ để lại một mặt trời đến ngày nay vậy. Dân gian gọi tích đó là “Hậu Nghệ xạ nhật”.


     Trên đây là diễn giải nghĩa lý vì sao mà hai vị Nguyên Vũ Tông và Mạc Đĩnh Chi lại dùng hai từ ngọc thố và kim ô để đưa vào vế đối của mình. 

     Giai thoại thứ hai cũng ở trên đất Trung Hoa, đó là sau khi nhập triều bái kiến Hoàng đế xong thì quan tể tướng triều Nguyên mở tiệc khoản đãi sứ thần nước Việt. Khi tới phủ tể tướng, ông Đĩnh Chi thấy một bức trướng thêu chim sẻ đậu trên cành trúc rất đẹp, hình dung sinh động, y như thật vậy. Ông Đĩnh Chi cũng thoạt nhiên tưởng là chim thật, liền nhào người tới bắt chim mới vỡ lẽ là lầm tưởng. Các quan nhà Nguyên thấy vậy thì bật cười, cho đó là người kém hiểu biết. Thấy vậy ông Đĩnh Chi mới tiện tay xé luôn bức trướng quý trước mặt đám quan viên. Quan tể tướng giận lắm nhưng cũng nén lại mà bảo:

- Hà cớ gì mà ông lại xé đi như vậy?

Mạc Đĩnh Chi bình thản mà thưa lại:

Cổ nhân xưa nay chỉ vẽ mai với tước (tức chim sẻ), chứ không vẽ trúc với tước bao giờ. Bởi lẽ trúc là tượng của bậc quân tử, tước là tượng của kẻ tiểu nhân. Nay bức trướng này thêu tước đậu trên canh trúc, tức là hàm cái ý thế của bọn tiểu nhân ở trên mà đức của người quân tử bị nép phục. Nay tôi vì thánh triều mà trừ đi mối tệ đấy.

     Ai nấy đều cho thế là phải, lại càng phục tài ứng biến của sứ thần nước Nam ta.

     Trong thời gian lưu lại ở Đại Đô, nhà Nguyên chẳng may có một vị công chúa qua đời. Sứ thần Mạc Đĩnh Chi theo phép ngoại giao cũng phải tới viếng đám tang. Khi đọc văn tế, triều đình nhà Nguyên chỉ đưa cho ông Đĩnh Chi một tờ giấy, bên trong viết chữ “nhất”, ý là thử tài văn chương của ông. Không ngần ngại, ông Đĩnh Chi ứng khẩu đọc luôn:

Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!

     Dựa trên ý tứ bài văn tế trên, Lượng Thiên Xích phiên thành hai thể thơ, một thể sát với nghĩa gốc và một thể lục bát truyền thống Việt Nam. Thể thứ nhất như sau:

Trời xanh một đám mây
Lò hồng một bông tuyết
Vườn triều một nhành hoa
Ao ngọc một trăng sáng
Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!

Thể thơ lục bát như sau:

Trời xanh một đám mây vàng
Lửa lò kia điểm một nàng tuyết sa
Vườn triều thắm một đóa hoa
Ao thu chiếu phản một tòa trăng thanh
Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!

     Chỉ với một chữ “nhất” thôi mà ông Đĩnh Chi vừa miêu tả và khen ngợi vẻ đẹp của công chúa, cũng vừa cảm thán, xót thương cho người yểu mệnh, lại vừa hợp với tiêu chí đề ra. Người đương thời khó mà theo kịp cái tài văn chương này vậy.

     Theo sử ghi lại thì mặc dù ông Mạc Đĩnh Chi là quan cao của ba triều vua nhà Trần, nhưng sống thanh liêm, đạm bạc, các con cháu sau này cũng noi cái gương đó mà chẳng màng đến phú quý ở đời, chỉ cầu giữ lấy cái danh cho sạch. Xét ra chỉ phát cái quý hiển chứ không phát phú. Điều này được các nhà Phong thủy xưa kia chỉ ra rằng, đó là thế đất chôn cất cha của ông, gò đống châu tuần về nhưng dòng nước lại chảy đi, có tán mà không có tụ vậy.

     Trên đây là một vài giai thoại, phác thảo nên một danh nhân nước Việt. Truyện kể ở đây, dù chẳng phải sử liệu hoàn toàn, nhưng điển tích tồn tại trong dân gian thì vẫn có nét dung dị và chân thật, hòng giới thiệu với độc giả vậy.


LƯỢNG THIÊN XÍCH

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét