Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

NGUYÊN LÝ KHỞI LỆ CỦA DỊCH MÃ



“Thần khu kinh” nói rằng: Dịch mã là tượng cưỡi ngựa trạm để đưa tin. Ngày này nên phong tặng qua tước, ban mệnh lệnh cho công khanh, đi xa, nhậm chức, di chuyển, rời chỗ ở.


Lý Đỉnh Tộ nói rằng: Dịch mã, tháng giêng khởi ở Thân, nghịch hành tứ mạnh.

Trong “Khu nghi thuyết” của học giả Trữ Vĩnh có giải thích tường tận nguồn gốc của Dịch mã là do tính toán thứ tự qua lại của số Tam hợp của Tiên thiên, cụ thể như sau:

Tý 9, Sửu 8, Dần 7, Mão 6, Thìn 5, Tị 4, Ngọ 9, Mùi 8, Thân 7, Dậu 6, Tuất 5, Hợi 4.

Mộc Hỏa là Dương cục, khởi ở cung Tý, thuận hành.
Kim Thủy là Âm cục, khởi ở cung Ngọ, thuận hành.

- Thân Tý Thìn hợp thành Thủy cục, thuộc Âm, số là 7+9+5= 21. Từ cung Ngọ đếm thuận hành đến vị trí thứ 21 thì gặp Dần. Vậy Dần là Dịch mã của Thủy cục.

- Tị Dậu Sửu hợp thành Kim cục, thuộc Âm, số là 4+6+8=18. Từ cung Ngọ đếm thuận hành đến vị trí thứ 18 thì gặp Hợi. Vậy Hợi là Dịch mã của Kim cục.

- Hợi Mão Mùi hợp thành Mộc cục, thuộc Dương, số là 4+6+8= 18. Từ cung Tý đếm thuận hành đến vị trí thứ 18 thì gặp Tị. Vậy Tị là Dịch mã của Mộc cục.

- Dần Ngọ Tuất hợp thành Hỏa cục, thuộc Dương, số là 7+9+5=21. Từ cung Tý đếm thuận hành đến vị trí thứ 21 thì gặp Thân. Vậy Thân là Dịch mã của Hỏa cục.


Nhà Dịch học thời Tống là Tào Chấn Khuê nói rằng: Dịch mã là thời Ngũ hành đang lúc bệnh mà gặp được vợ con. Giống như người đang lúc khốn cùng mà gặp được vợ con nên được cứu.
Giả như thời lệnh Dần Ngọ Tuất là hỏa, bệnh ở cung Thân, cung Thân tàng chứa Canh là thê, Mậu là tử. Vì vậy lấy Thân là Dịch mã của Hỏa cục.
Thân Tý Thìn là Thủy cục, bệnh ở cung Dần, cung Dần tàng chứa Bính là thê, Giáp là tử. Vì vậy lấy Dần là Dịch mã của Thủy cục.
Hợi Mão Mùi là Mộc cục, bệnh ở cung Tị, cung Tị tàng chứa Mậu là thê, Bính là tử. Vì vậy lấy Tị là Dịch mã của Mộc cục.
Tị Dậu Sửu là Kim cục, bệnh ở cung Hợi, cung Hợi tàng chứa Giáp là thê, Nhâm là tử. Vì vậy lấy Hợi là Dịch mã của Kim cục.

Lượng Thiên Xích chú giải: “Xét ra Dần là Công tào, Thân là Truyền tống, Hợi là Thiên môn, Tị là Địa hộ, đều là tượng của đường xá, thêm cái lý Dần Thân Tị Hợi đều là chỗ Trường sinh của Ngũ hành, lấy cái đức sinh đó để cứu giải những khi bị khốn cùng vậy. Giả như Hỏa cục Dần Ngọ Tuất, đến Thân thì gặp Bệnh, tức là gặp nguy khốn. Hỏa được Mộc sinh, nhưng Mộc đến đất Thân thì gặp Tuyệt. Mộc được Thủy sinh, mà Thân là Trường sinh của Thủy, bởi vậy Thân là nơi Thủy sinh ra, cứu được thế Tuyệt của Mộc, cứu được thế Bệnh của Hỏa vậy.

Tị Dậu Sửu là Kim cục, đến Hợi thì gặp bệnh, tức là gặp nguy khốn, cầu có Thổ tới tương sinh, nhưng Hỏa Thổ gặp Tuyệt ở Hợi, lại phải cầu Mộc tới sinh cho Hỏa Thổ. Hợi là Trường sinh của Mộc, tương sinh cho Hỏa Thổ, Hỏa Thổ vượng thì Kim cục cũng được giải cứu vậy.

Vì Dần Thân Tị Hợi đều là tượng đường xá nên mới dùng hình tượng ngựa trạm loan tin để đặt tên thành Dịch mã. Tựa như thời bị giặc dã nguy khốn, dùng đến ngựa trạm cấp báo viện binh vậy. Đang ở thế hiểm mà có sự cứu tới thì đúng là Tuyệt xứ phùng sinh rồi.”



LƯỢNG THIÊN XÍCH

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét