Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2018

NGUYÊN LÝ KHỞI LỆ CỦA TAM SÁT

Trong lý luận Phong thủy, Tam sát được coi là những Sao đứng đầu trong ác thần. Cũng bởi chúng có tính chất đối địch với Thái tuế nên mới hung hại như vậy. Tam sát chính là Kiếp sát, Tai sát, Tuế sát. Nếu khởi công, động thổ, tu tạo phạm phải Tam sát sẽ làm cho gia đạo suy vi, trộm cắp quấy nhiễu, tổn thương thân thể, bệnh tật hoành hành, tử tôn bất lợi, lục súc khó nuôi. Bởi vậy rất nên tránh phương vị Tam sát trong việc khai lập âm dương nhị trạch.




Về bản chất, Tam sát chính là khí Ngũ hành xung đột nhau, khắc sát mà thành.


Ví dụ như:

Các năm Thân – Tý – Thìn thuộc Tam hợp Thủy cục, xung đột, khắc sát tới phương nam, hành Hỏa.

Các năm Tị - Dậu – Sửu thuộc Tam hợp Kim cục, xung đột, khắc sát tới phương đông, hành Mộc.

Các năm Dần – Ngọ - Tuất thuộc Tam hợp Hỏa cục, xung đột, khắc sát tới phương bắc, hành Thủy.

Các năm Hợi – Mão – Mùi thuộc Tam hợp Kim cục, xung đột, khắc sát tới phương tây, hành Kim.
Bốn phương nam – bắc, đông – tây cứ xung đột như vậy mà thành sát.

Nhà Dịch học thời Tống là Tào Chấn Khuê thì cho rằng: “Tam sát là khí Tam hợp Ngũ hành ở ba phương Tuyệt, Thai, Dưỡng”. Sở dĩ nói thế là vì ở nơi cùng cực mà thành sát vậy.

Giải thích như hai lý trên, mặc dù đúng nhưng chưa đủ, và chưa lý giải được tại sao lại có tên là Kiếp sát, Tai sát và Tuế sát.

1. Kiếp sát




“Thần khu kinh” nói rằng: “Kiếp sát là âm khí của Tuế, chủ có sát hại. Phương nó quản kị có khởi tạo, phạm vào chủ có trộm cướp làm tổn thương, sát hại.”

Lý Đỉnh Tộ nói rằng: “Năm Dần Ngọ Tuất, tại Hợi; năm Hợi Mão Mùi, tại Thân; năm Thân Tý Thìn, tại Tị; năm Tị Dậu Sửu, tại Dần. Đúng vậy”.

2. Tai sát



“Thần khu kinh” nói rằng: “ Tai sát là ngôi vị của Ngũ hành âm khí. Thường đóng trước Kiếp sát một thời, chủ việc tai bệnh, tật ách. Phương nó quản không thể tu tạo hướng đến, phạm vào mắc phải bệnh hoạn”.



Tào Chấn Khuê nói rằng: “Tai sát – Thai thần tam hợp Ngũ hành.”

“Đổng nguyên kinh” nói rằng: “Kiếp sát khởi ở Tuyệt, Tai sát khởi ở khắc. Giả như thời lệnh năm Thân Tý Thìn hợp Thủy cục, Thủy Tuyệt ở Tị, vì vậy Kiếp sát ở Tị, Thai ở Ngọ, lại Thủy với Ngọ Hỏa tương khắc, vì vậy Tai sát tại Ngọ. Năm Tị Dậu Sửu hợp Kim cục. Kim Tuyệt ở Dần, vì vậy Kiếp sát tại Dần, Thai ở Mão, lại Kim với Mão Mộc tương khắc, vì vậy Tai sát tại Mão. Ngoài ra phỏng theo như thế”.

3. Tuế sát



“Thần khu kinh” nói rằng: “Tuế sát là sát âm của khí, đó là đặc biệt độc, thường đóng ở tứ quý, bảo rằng âm khí của tứ quý được đi chơi trên trời.”

Lý Đỉnh Tộ nói rằng: “Dần Ngọ Tuất sát tại Sửu, Tị Dậu Sửu sát tại Thìn, Thân Tý Thìn sát tại Mùi, Hợi Mão Mùi sát tại Tuất”.

“Quảng thánh lịch” nói rằng: “Đất của Tuế sát không thể đục khoét, tu tạo, di chuyển. Phạm vào thương tổn con cháu, lục súc”.
Tào Chấn Khuê nói rằng: “Kiếp sát, Tai sát, Tuế sát đúng là Tam sát”.

Căn cứ vào luận cứ trên có thể thấy rằng:


- Các năm Tam hợp Thủy cục: Thân Tý Thìn. Sát tại Tam hội Hỏa cục Tị Ngọ Mùi. Trong đó Tị là Kiếp sát, Ngọ là Tai sát, Mùi là Tuế sát.

- Các năm Tam hợp Kim cục: Tị Dậu Sửu. Sát tại Tam hội Mộc cục Dần Mão Thìn. Trong đó Dần là Kiếp Sát, Mão là Tai sát, Thìn là Tuế sát.

- Các năm Tam hợp Hỏa cục: Dần Ngọ Tuất. Sát tại Tam hội Thủy cục Hợi Tý Sửu. Trong đó Hợi là Kiếp sát, Tý là Tai sát, Sửu là Tuế sát.

- Các năm Tam hợp Mộc cục: Hợi Mão Mùi. Sát tại Tam hội Kim cục Thân Dậu Tuất. Trong đó Thân là Kiếp sát, Dậu là Tai sát, Tuất là Tuế sát.

Vậy tại sau lại lấy khí Tam hợp của Ngũ hành để tính toán Tam sát? Đó là do theo Thiên lấy 1 mà tròn, theo địa lấy 2 mà vuông, Nhân lấy 3 mà là góc. 1 sinh 2, 2 sinh 3. Đến chỗ 3 mà vạn vật sinh ra vậy. Đại để sinh do trời, phương trưởng do nhân, tử lại quy về địa. Tam hợp chính là ba phương Sinh, Vượng, Mộ của Ngũ hành, là nơi khởi đầu của âm dương, chỗ hội của quỷ thần, là tú khí của Ngũ hành, là nơi tối trọng của thần sát... chính là ở ba góc Sinh, Vượng, Mộ mà ra. Cho nên lấy Tam hợp làm trọng để tính toán Tam sát vậy.

Giả như Tuế tại Dần Ngọ Tuất là Tam hợp Hỏa cục, Tam sát tất sẽ ở ba nơi là Hợi Tý Sửu. Trong đó Dần là nơi đầu, là nơi Trường sinh của Hỏa, mà Sửu đứng trên Dần, là tượng Tuế bị đè nén, áp bức, bởi vậy mới đặt Sửu là Tuế sát.


Tuất là thời Mộ khố của Hỏa, đóng ở cuối, mà Hợi đứng dưới Tuất, có ý cướp ngôi, là tượng có kẻ trộm vào. Vì vậy mới đặt Hợi là Kiếp sát.
Tam hợp Hỏa cục thì Ngọ là nơi Hỏa thịnh, đóng ở giữa, Tý xung với Ngọ tất nhiên sẽ có tai ách xảy ra. Vì vậy mới đặt Tý là Tai sát.

Ngoài ra phỏng theo thế.

Trên đây là nguyên lý tính toán và đặt tên của Kiếp sát, Tai sát và Tuế sát do Thánh nhân truyền lại. Là nơi khí trường đi đến cùng cực, xung đột với Tuế cho nên luận hung. Học giả các đời đều lấy Tam sát làm trọng mà tránh đi, nhằm phòng trừ tai họa tiềm tàng vậy.


LƯỢNG THIÊN XÍCH

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét